Cuốn phả cổ về họ Đặng còn giữ được đến nay cho biết một điều gọn gàng: họ Đặng ở An Đề, Vũ Thư – Thái Bình là một gốc lớn. Từ mấy dòng chữ ấy, tác giả Nguyễn Văn Thành đã lần ra được cả một chặng đường dài mấy trăm năm của dòng họ, trong bài viết đăng trên Website Bảo tàng Lịch sử quốc gia ngày 08/07/2010.
Họ Đặng là một dòng tộc nổi tiếng, có nhiều người hiển đạt và trở thành danh thần qua nhiều triều đại. Thời Lý, cụ Đặng Phúc Mãn có quê gốc ở Lộ Ứng Thiên, nay là vùng hữu ngạn trung lưu sông Đáy (Hát Giang), đi xây hành cung cho vua Lý. Vì có công, ông được vua Lý ban lộc điền ở An Đề, nay là huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
Vào thời nhà Lý, Vũ Thư là một bãi bồi đất tốt rộng mênh mông; các vương hầu nhà Lý thường lập điền trang thái ấp ở đây. Chính trên thái ấp của mình, cụ Đặng Phúc Mãn đã sinh ra trưởng nam Đặng Nghiêm.
Cụ Đặng Nghiêm là người thông minh tuấn tú, học hành tài giỏi. Năm Ất Tỵ (1185), đời Lý Cao Tông, cụ thi đậu kỳ thi chọn người giỏi thi thư, trở thành người khai khoa cho họ Đặng, đồng thời cũng là người khai khoa cho cả xứ Sơn Nam — gồm các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình và một phần Hà Nội ngày nay. Cụ được ghi tên thứ năm trong danh sách các nhà khoa bảng Việt Nam suốt ngàn năm lịch sử của nước Việt Nam độc lập và tự chủ. Ngày nay, tại An Để, huyện Vũ Thư vẫn còn nhà thờ Đặng Nghiêm và hậu duệ của cụ; tỉnh Thái Bình đã đặt tên Đặng Nghiêm cho một đường phố lớn, đẹp, ở cạnh sông Trà Lũ.
Nối tiếp truyền thống ấy, hậu duệ của cụ Đặng Nghiêm rất hiển đạt. Thời kỳ đầu nhà Trần đã xuất hiện các nhà khoa cử của họ Đặng: cụ Đặng Diễn đậu Nhị giáp khoa thi Thái học sinh năm Kiến Trung thứ 8 đời Trần Thái Tông (1232). Đặc biệt là cụ Đặng Ma La, đậu Thám hoa khoa thi năm Đinh Mùi, niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 (1247), khi mới 14 tuổi — là nhà khoa bảng trẻ tuổi thứ hai, chỉ sau Nguyễn Hiền 13 tuổi. Đặng Ma La hiện có đền thờ rất lớn ở Hàng Kênh, Hải Phòng, và là nhân vật tiêu biểu nhất được thờ ở văn miếu làng Tốt Động, huyện Chương Mỹ, Hà Nội.
Nhiều con cháu cụ Đặng Ma La được cử đi sứ nhà Nguyên, như Đặng Hữu Điềm, Đặng Nhữ Lâm. Từ một cuốn sách viết về Thiên văn và làm lịch của Trung Quốc, hai cha con cụ Lâm và cụ Lộ đã miệt mài nghiên cứu, chế ra Lung Linh Nghi — một dụng cụ để khảo sát thiên tượng mà Đại Việt Sử ký toàn thư ghi là rất linh nghiệm. Cụ còn soạn ra lịch Hiệp kỷ, rồi xin Vua bỏ lịch Thủ thời — thứ lịch của nhà Nguyên, nhà Minh thường dùng — để dùng lịch Hiệp kỷ của ta. Nhiều sách vở đã ca ngợi cụ Đặng Lộ ở Chương Đức là nhà khoa học tự nhiên sớm nhất của nước ta. Có những cái tên được nhớ nhờ chiến công; cụ Đặng Lộ được nhớ nhờ một dụng cụ đo trời và một bộ lịch mang tên nước mình.
Con trai cụ Đặng Lộ là Thái Bảo Hậu nhân hầu Đặng Bá Kiển đã đi làm quan rồi di cư vào cư trú ở phía Nam núi Hồng Lĩnh, tạo thành một chi họ Đặng ở đất Hoan Châu.
Hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung là cháu cụ Đặng Lộ, làm quan thời nhà Trần ở đất mới Hóa Châu; suốt đời gắn bó với vùng đất mới ấy. Tháng 2 năm Tân Mùi (1391), Hồ Quí Ly đem quân vào Hóa Châu tuần tiễu. Tháng 8 năm đó, Hồ Quí Ly cử Đặng Tất làm Châu Phán, Hoàng Hối Khanh làm Chính hình viện Đại phu cai quản Hóa Châu; từ đây Đặng Tất và Hoàng Hối Khanh có nhiều quan hệ gắn bó.
Sau này, khi quân xâm lược nhà Minh kéo sang, cha con Đặng Tất, Đặng Dung và nhiều người con họ Đặng khác đã đứng lên phò Trần Ngỗi — con thứ của Nghệ Tông, nổi lên ở Mộ Đỗ, xưng là Giản Định Đế. Nhưng rồi Giản Định Đế bị kẻ xấu gièm pha nên đã giết chết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Vì thế Đặng Dung, con trai của Đặng Tất, mới tôn lập Trần Quý Khoáng lên ngôi, tức Trùng Quang Đế. Dù cố gắng kháng chiến, kết cục Trùng Quang Đế và Đặng Dung vẫn bị giặc Minh bắt và giải về Kim Lăng, Trung Quốc; trên đường đi, các ông đã tuẫn tiết. Để tưởng nhớ cha con Đặng Tất, Đặng Dung, tại thủ đô Hà Nội đã có tên đường mang tên các vị danh nhân này. Em ruột Đặng Dung là Đặng Thiết, Đặng Quang theo gương cha anh khởi nghĩa, cũng bị thất bại.
Một số hậu duệ của Đặng Dung trốn lên vùng Sơn Vi – Mão Phổ, sinh cơ lập nghiệp ở đây và sinh ra một dòng tộc mà thời Lê Sơ có rất nhiều người đậu tiến sỹ: Đặng Thiếp, đậu Hoàng giáp khoa Quí Dậu niên hiệu Thái Hòa 11 (1453); Đặng Tông Củ, đậu Đệ Tam giáp, đồng Tiến sỹ khoa Giáp Tỵ niên hiệu Hồng Đức 15 (1484); Đặng Minh Khiêm, đậu Hoàng giáp khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18 (1484).
Một số con cháu khác của họ Đặng ở Can Lộc, sau thời loạn thì di chuyển về Nghệ An và đã sinh ra dòng họ Đặng Minh Bích. Cụ Đặng Minh Bích quê ở Bạch Đường, nay là Đô Lương, đậu Tiến sỹ khoa Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484), làm quan đến Thượng thư. Ông còn để lại 22 bài thơ in trong Toàn Việt thi lục. Ông có nhiều con đỗ Hương cống và đều tham gia chống Mạc phù Lê.
Một chi nữa là con cháu Đặng Tất ở Nghệ An, đã sinh ra Đặng Sỹ Vinh. Đặng Sỹ Vinh là con trai Quận công Đặng Nhân Ngôn; ông đậu khoa Hoành Từ, tương đương Tiến sỹ, và được tôn là một trong Nghệ An tứ Hổ. Khi đang làm tri phủ Thiệu Thiên — nay là Thiệu Hóa — bất bình với việc quan lại tham nhũng, ông cáo bệnh về quê mở trường dạy học. Ông có đông học trò thành đạt và có nhiều thông gia là những danh gia vọng tộc ở đất Hồng Lĩnh. Do danh tiếng của ông, triều đình lại cử ông ra làm quan, thăng lên đến Tước Thiếu bảo Liêu quân Công đô ngự sử; khi mất, ông được phong làm Phúc thần. Ông sinh ra một dòng tộc rất đông người ở Nghi Xuân, và dòng tộc này có nhiều người thành đạt đã tham gia cùng nghĩa quân Tây Sơn.
Họ Đặng từ thời Lý cho đến thời Lê Sơ là một vượng tộc đã đóng góp cho đất nước nhiều nhân tài, có những cống hiến lớn. Việc nghiên cứu kỹ dòng họ này sẽ đóng góp cho nền văn hóa nước nhà, điều mà ngày nay chúng ta rất cần trong việc đề cao tinh thần dân tộc của nhân dân Việt Nam.
Đọc hết một mạch những cái tên và những niên đại ấy, có thể thấy điều lặp đi lặp lại không phải là chức tước, mà là việc học. Mỗi lần một chi họ phải rời đi vì loạn lạc — vào Hoan Châu, vào Hóa Châu, lên Sơn Vi – Mão Phổ, về Nghệ An, xuống Nghi Xuân — thì chỉ vài đời sau, ở nơi đất mới lại có người đỗ đạt. Thứ mang theo được khi phải bỏ nhà mà đi, hóa ra là thứ nhẹ nhất: nếp học hành.
