Cách đặt tên của người Việt: Họ, Tên đệm và Tên chính

Trước khi một đứa trẻ kịp biết mình là ai, nó đã có một cái tên. Mỗi người đều do cha mẹ sinh ra, được cân nhắc đặt cho một cái tên, và trong cái tên ấy bao giờ cũng gửi gắm một mong ước tốt đẹp dành cho người mang nó. Mỗi thời đại lại có một tâm lý đặt tên riêng; mỗi dân tộc, mỗi đất nước có cách gọi, cách đặt tên khác nhau, tùy thuộc vào nền văn hóa của dân tộc, của đất nước, của vùng miền nơi đó.

Tên người Âu Mỹ thường viết theo thứ tự: Tên chính (Lina, Kevin, Carol…) đứng trước, rồi đến Tên đệm, sau cùng mới là Họ (Williams, Thomas, Smith…). Khi xưng hô, người ta thường gọi Họ, ít khi gọi tên chính như người Việt. Đó là khác biệt nhỏ về hình thức nhưng nói lên nhiều điều về cách mỗi nền văn hóa nhìn nhận cá nhân.

Tên người Việt Nam có thể phân loại thành ba thành phần chính: Họ, Tên đệm và Tên chính. Họ là một tập hợp hữu hạn, có tính huyết thống — tức là cùng chung dòng máu — cha truyền con nối, gồm họ nội và họ ngoại; họ ổn định, mang tính xã hội và có lịch sử lâu đời. Họ luôn đứng ở vị trí thứ nhất; nếu một họ đứng ở vị trí thứ nhì thì nó trở thành tên đệm. Tên đệm là một hệ thống mở, vừa dùng để phân biệt giới tính, vừa có thể liên hệ tập thể với cá nhân, và rất biến động. Tên chính là tên riêng của mỗi người, cũng là một hệ thống mở, phong phú hơn cả họ lẫn tên đệm, và gắn chặt với từng cá nhân. Tên chính cùng tên đệm phụ thuộc vào người đặt tên, mang yếu tố tâm lý và có tính thẩm mỹ về mặt ngôn ngữ. Trên thực tế cũng có những trường hợp tên người chỉ gồm họ và tên chính, không có tên đệm, như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Khúc Hạo, Đinh Núp, Trần Liễu, Đặng Tất.

Tên người Việt Nam có chức năng chính là phân biệt người này với người khác, dòng họ này với dòng họ khác, phân biệt giới tính, đồng thời có ý nghĩa về mặt ngữ, nghĩa. Việc đặt tên thường theo mấy nguyên tắc: ngắn gọn, tránh quá dài để dễ giao tiếp; tránh trùng lắp; phân biệt được giới tính; và cố gắng sao cho hay về ý, đẹp về âm.

Nói về Họ. Thông thường họ ra đời trước, có trước tên chính và tên đệm. Năm 1932, trong bài “Les noms de famille ou họ chez les annamites du delta tonkinois”, tác giả P. Gourou đã liệt kê Việt Nam có 94 họ của người Kinh và 109 họ của đồng bào các dân tộc, tổng cộng 203 họ. Đến năm 1954, ngành nhân danh học được hình thành với nhiều bài viết về dòng họ và tên người Việt Nam; trong đó tác giả Nguyễn Bạt Tụy, qua bài “Tên người Việt Nam”, đã liệt kê 308 họ và khảo cứu về cách đặt tên đệm, tên chính của người Việt Nam. Chỉ hơn hai mươi năm, con số đếm được đã tăng từ 203 lên 308 — không phải vì có họ mới, mà vì người ta nhìn kỹ hơn.

Phần lớn các họ của người Kinh có nguồn gốc Trung Quốc; người Trung Quốc có khoảng 700 họ, theo sách “Họ và tên người Việt Nam” của PGS, TS Lê Trung Hoa, Nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 2005, trang 33. Một số họ do chính người Việt tự đặt ra, như họ Khiếu. Vua Gia Long sau khi lên ngôi đã dùng các từ ngữ như Tôn Thất, Tôn Nữ cho cháu trai, cháu gái của mình để phân biệt với người ngoài hoàng tộc; về sau Tôn Thất, Tôn Nữ được dùng như họ. Người Khơ-me ở miền Tây Nam Bộ lấy chữ đầu của tên làng làm họ, như họ Dương ở làng Dương Hòa, họ Kỳ ở làng Kỳ Lộ, họ Lộc ở làng Lộc Trí, họ Trà ở làng Trà Tiên. Một số dân tộc thiểu số vốn không có họ, được vua chúa người Kinh ban cho: người Chăm có bốn họ là Ông, Ma, Trà, Chế; người Khơ-me có năm họ là Danh, Kim, Lâm, Sơn, Thạch; người Hrê mang họ Đinh.

Về tỉ lệ phân bố các họ, qua khảo sát 805 người ở Nam Bộ và 1.136 người ở Bắc Bộ, trích từ tài liệu “Họ và tên người Việt Nam” của Lê Trung Hoa, trang 65, mười lăm họ có số đông đứng đầu danh sách gồm:

họ Nguyễn có 38,4%
họ Trần có 12,1%
họ Lê có 9,5%
họ Phạm có 7%
họ Hoàng, Huỳnh có 5,1%
họ Phan có 4,5%
họ Vũ, Võ có 3,9%
họ Đặng có 2,1%
họ Bùi có 2%
họ Đỗ có 1,4%
họ Hồ có 1,3%
họ Ngô có 1,3%
họ Dương có 1%
họ Lý có 0,5%

Nguyên nhân của sự khác biệt và biến động thì có thể có nhiều, nhưng có mấy nguyên nhân chính khiến họ tên thay đổi: do bị bán khoán vì khó nuôi; do làm con nuôi một nhà thì phải lấy họ nhà đó; do bị bắt buộc đổi vì phạm húy; do tiếm quyền, tức mang họ nhà Chúa, hoặc do phạm tội; do được vua chúa ban họ; do đổi họ vì mục đích chính trị; do đổi họ để tránh pháp luật đương thời hay để tránh trả thù; cũng có thể đổi họ vì ngoại hôn hoặc vì mâu thuẫn, vì ở rể, theo phong tục, vì ái mộ, hay đổi họ để lừa gạt.

Lịch sử dòng họ ở Việt Nam có nhiều thăng trầm biến động theo thời gian, qua từng giai đoạn. Đa số các dân tộc ở Việt Nam theo chế độ phụ hệ, đặt tên cho con cái thì lấy họ cha; một số ít dân tộc còn theo chế độ mẫu hệ, khi đặt tên cho con thì lấy họ mẹ, như người Ê Đê, Gia Rai, Chăm, Mnông. Dân tộc Kinh và nhiều dân tộc thiểu số ở Việt Nam trước đây chỉ có họ đơn, không có họ ghép — tức hai họ ghép lại; nay lại có xu hướng ghép cả họ cha và họ mẹ thành họ cho con cái của mình, như một cách ghi nhớ dòng họ của người mẹ, coi trọng “đồng tác giả” của “tác phẩm” là đứa con của hôn nhân gia đình. Trong một khảo sát tại một trường Trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh, năm học 1990 – 1991 có 47 trên 424 học sinh có tên đệm là họ mẹ, chiếm tỉ lệ 11%, theo tác giả Lê Trung Hoa, sách đã dẫn.

Nói về Tên đệm, hay còn gọi là tên lót, xen giữa họ và tên chính. Một cái tên có thể có hoặc không có tên đệm. Tên đệm thường dùng là từ đơn, như “Thị” cho nữ, “Văn” dùng cho nam; đôi khi cũng có thể là từ ghép, từ phức, như Trần Văn Hiến Minh, Lê Như Nguyệt Thảo. Tên đệm thường để phân biệt, làm rõ giới tính nam hay nữ, làm rõ thứ bậc trong gia đình, dòng họ. Chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ Hán, của Nho học, tên đệm Bá dùng để chỉ con dòng họ trưởng, Gia là con trưởng, còn Mạnh, Trọng, Quý chỉ dòng họ thứ, con thứ nhì, con út.

Tên đệm cũng mang những ý nghĩa tốt đẹp. Có tên đệm nói đến những tiết mùa trong năm như Xuân, Thu; chỉ vật quý như Cẩm, Châu, Ngọc, Quỳnh; chỉ các màu sắc, sự sáng đẹp như Hồng, Bích, Minh, Thanh; chỉ phẩm hạnh, vẻ đẹp như Đức, Trí, Trung, Thanh, Diễm, Mỹ, Lệ; chỉ tài năng, may mắn, tiến bộ, phát đạt như Tấn, Tài, Tuấn, Cao, Tiến, Sĩ, Quý, Đắc, Chí, Phú, Phúc, Thọ; chỉ sự mạnh mẽ, to lớn, lâu bền như Quốc, Đại, Đình, Thái, Trường, Dương. Nhiều trường hợp cha mẹ lấy chính tên đệm của cha hoặc tên đệm của mẹ để làm tên đệm cho con.

Nói về Tên chính. Đó là tên gọi của từng người, từng cá nhân, dùng để phân biệt với người khác, cá nhân khác; được lựa chọn cẩn thận và bao giờ cũng có lý do, và có xu hướng đa âm tiết. Tên người do cha, mẹ chọn; cha mẹ đặt tên căn cứ vào đặc điểm, phái tính của trẻ, vào hoàn cảnh gia đình, dòng họ, quê hương, xã hội, và vào ước vọng của chính mình mà chọn, chứ không phải tùy tiện đặt tên.

Tục ngữ có câu “Coi mặt đặt tên”. Điều đó có thể thấy qua tên các nhân vật chính diện, tri thức, bình dân trong các tác phẩm nghệ thuật như Vân Tiên, Tử Trực, Lan Ngọc, Anh Pha, Thị Nở; hoặc qua việc lấy tên của danh nhân, nghệ sĩ như Quốc Toản, Tri Phương, Thanh Nga, Thanh Trà, Lệ Thủy. Cũng có khi tên con được đặt cùng âm đầu, cùng vần với cha hoặc mẹ: cha tên là Biên thì con là Bình, Bồng, Bưởi, Bắc; mẹ là Hà thì con là Kha, Na, Hoa; cha là Lê Linh Lang thì con là Lê Luyến Lưu Ly. Cũng có thể đặt cùng một bộ chữ Hán như cha, như mẹ.

Nguồn để đặt tên chính thì rộng đến mức gần như bao trùm cả đời sống. Có tên lấy từ ngành nghề: Sĩ, Nông, Công, Thương. Có tên lấy từ hình thái văn nghệ: Thơ, Văn, Ca, Vũ. Có tên lấy từ nguyên liệu: Gang, Đồng, Bạc. Có tên lấy từ dụng cụ, từ bộ phận của sản phẩm: Chàng, Bào, Cưa, Cột, Kèo, Rui, Mè. Có tên liên quan đến thời gian, không gian: Tí, Sửu, Dần, Mão, Giáp, Ất, Bính, Đinh, Xuân, Hạ, Thu, Đông. Có tên ghi lại biến cố chính trị: Tản Cư, Hòa Bình, Hiệp Định, Thống Nhất. Có tên lấy từ khẩu hiệu đương thời: Trường, Kỳ, Kháng, Chiến, Cải, Tiến, Kỹ, Thuật. Có tên lấy từ địa danh, từ tên các nước: Ngọc Hồi, Tú Sơn, Việt, Nga, Anh, Nhựt, Mỹ, Âu, Á, Úc, Phi.

Lại có những cái tên là thành ngữ, là từ ngữ thể hiện ước vọng tốt đẹp về phẩm hạnh như Công Bình, Thanh Liêm, Trung Kiên, Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, Công, Dung, Ngôn, Hạnh, Hiền, Diệu, Thảo; về sự thành đạt, giàu có như Phú, Quý, Vinh, Hoa, Công, Thành, Danh, Toại; về sức khỏe như Mạnh, Khỏe, Cường, Tráng. Cũng có khi tên chỉ là số thứ tự thuần Việt như Một, Hai, Ba; hoặc số thứ tự Hán – Việt như Nhất, Nhị, Tam; hoặc dịch từ tiếng Pháp như Ôn, Đơ, Troa. Có tên lấy từ những loài chim đẹp, hót hay như Họa Mi, Sơn Ca, Oanh, Phụng, Yến; lấy từ tên động vật, thực vật như Long, Lân, Quy, Phụng, Rô, Mè, Chép, Trắm, Ổi, Xoài, Mận, Mít.

Nghề nghiệp của cha mẹ cũng in dấu rất rõ vào tên con. Cha mẹ làm ruộng thì thường đặt tên cho con là Cày, Bừa, Liềm, Hái. Cha mẹ làm nghề thợ mộc thì đặt tên con là Dùi, Đục, Bào, Cưa. Cha mẹ làm thợ rèn thì đặt tên con là Bễ, Đe, Lò, Than. Cũng có khi cái tên là tên của người yêu, của kẻ thù, hay lấy theo tiếng nước ngoài.

Việc thay đổi tên cũng thường xảy ra, và cũng có nhiều lý do: do vua đổi tên cho; do tên trùng với tên vua, tên bậc đời trước, tức phạm húy; do có biến cố; do đổi tên sau một cơn bệnh nặng; do thi rớt; để trốn lính; để hoạt động cách mạng; hoặc gọi theo tên chồng, gọi theo tên con đầu lòng.

Tên đệm phối hợp với tên chính giúp làm rõ phái tính, nhờ đó có thể nhận biết được người mang tên là nam hay nữ.

Bên cạnh những điều nên làm còn có những điều phải tránh. Tên không được trùng với bậc trưởng thượng thế hệ đời trước, tức phạm húy; tránh tên các vị thần thánh, vua chúa; tránh những chữ gợi nhớ điều xấu, điều bất hạnh như Rơi, Hận, Thù, Tù, Ngục, Nạn; tránh những chữ chỉ bệnh hiểm nghèo như Ung, Cùi; tránh đặt quá dài, quá kỳ quặc như Phan Hết Gas Hết Số, Mai Phạt Sáu Ngàn Rưởi; tránh những tên tục tĩu gây ngượng ngùng, mặc cảm, xấu hổ, phiền toái, bất tiện, khó xử cho trẻ lúc trưởng thành khi giao tiếp trong cuộc sống. Đó là những điều mà bậc làm cha, làm mẹ phải nghĩ đến khi đặt tên cho con — bởi cái tên là thứ đứa trẻ mang theo suốt đời, còn cha mẹ thì chỉ đặt nó có một lần.

Ngoài họ, tên đệm, tên chính theo giấy khai sinh — gọi chung là tên khai sinh — mỗi người còn có thể có nhiều danh hiệu khác. Có tên hèm, tức tên cúng cơm; có tên thường gọi; có tên tục, thường là tên xấu xí, không đẹp; có tên húy, dùng cho vua chúa, quan lại, thần thánh, ông bà, thầy giáo, do cha mẹ đặt từ thuở nhỏ mà khi trưởng thành thì không nhắc đến nữa theo tục lệ cũ. Nho sĩ thì có tên tự, tên hiệu, biệt hiệu, tước hiệu, tên thụy. Văn nghệ sĩ thì có bút danh, nghệ danh, xước danh, tức hài danh. Tu sĩ và tín đồ tôn giáo thì có pháp danh, pháp tự, pháp hiệu, đạo hiệu, tên thánh.

Các danh hiệu ấy là tên riêng khác của mỗi người, và cũng có thể thay đổi theo thành phần xã hội — vua chúa, nho sĩ, quan lại, lãnh tụ, tri thức, văn nghệ sĩ, tu sĩ, dân thường — theo chế độ chính trị, từ thời phong kiến, thời thực dân cho đến ngày nay; tính thẩm mỹ của chúng cao hay thấp cũng tùy theo thành phần xã hội, theo suy nghĩ và cảm tính của người đặt tên. Ngoài ra còn có bí danh, tức thay tên thật để giữ bí mật; bí số, tức những con số thay cho tên thật; mật danh, tức danh xưng bí mật; và ngụy danh, tức tên giả.

Cách đặt tên của người Việt vì thế mang đậm nét văn hóa truyền thống của người Việt, ngày càng đa dạng, phong phú, nhiều ý nghĩa, và đôi khi cũng trở nên phức tạp hơn. Một cái tên chỉ là vài chữ trên tờ khai sinh, nhưng trong vài chữ ấy có cả thời đại đứa trẻ ra đời, cả nghề nghiệp của cha mẹ, cả điều một gia đình từng mong mỏi. Đọc lại tên người đi trước trong gia phả, nhiều khi ta không chỉ biết họ là ai, mà còn đoán được họ đã sống vào lúc nào.