Tản mạn về Tết Nguyên đán — trọn một chuỗi nghi lễ

Cuối tháng Chạp, khi mồ mả ngoài đồng vừa được đắp sửa, dẫy dọn, khi cây nêu chưa dựng và cái bếp trong nhà sắp đến ngày tiễn Ông Táo, người Việt bước vào một nhịp sống khác hẳn những ngày còn lại của năm. Đó là nhịp của việc sửa sang, của việc nhớ ra những món nợ chưa trả và những người chưa kịp thăm. Có những ngày chỉ đơn thuần là một ngày; và có những ngày mang trong nó cả một trật tự — trật tự giữa trời và đất, giữa âm và dương, giữa người đang sống và người đã khuất. Thưa quý vị, Tết Nguyên đán là ngày như thế.

Tết Nguyên đán là lễ Tết cổ truyền, thiêng liêng và trọng đại của dân tộc ta, có nơi gọi là Tết cả. Tầm quan trọng của Tết ăn sâu trong tinh thần và tình cảm của người con, người dân đất Việt. Đây cũng là thời điểm thiêng liêng kết nối giữa trời và đất, giữa âm và dương, giữa cõi vĩnh hằng với nhân gian hiện hữu, giữa lịch đại tổ tiên với con cháu hiện tồn. Nó là sợi dây làm cho thắt chặt, bền lâu tình cảm thân ái giữa mỗi cá nhân, mỗi gia đình với tập thể, với gia tộc, với bạn bè thân hữu, với láng giềng chòm xóm, với cả cộng đồng xã hội.

Trải qua biết bao đời, bao thế hệ, các lễ tiết giao mùa của dân tộc được hình thành và phát triển. Tết Nguyên đán dần được xác lập, rồi thu nạp thêm những thành tố mới: điển lệ của Nho giáo, những người thờ cúng, những tín điều và kiêng kỵ của Đạo giáo, của Phật giáo. Bởi vậy Tết Nguyên đán đã tạo nên một phức thể đa dạng và phong phú — không phải một tập tục đơn lẻ, mà là nhiều lớp văn hóa chồng lên nhau theo năm tháng.

Chữ Tết có gốc từ chữ tiết, chỉ việc phân đoạn về thời tiết trong năm. Mỗi năm có 24 tiết; bốn mùa gắn với tám tiết chính, gọi là tứ thời bát tiết, bao gồm tứ lập (lập xuân, lập hạ, lập thu, lập đông), nhị phân (xuân phân, thu phân) và nhị chí (hạ chí, đông chí). Trong tất cả, Tết Nguyên đán diễn ra vào ngày đầu năm, là lễ quan trọng nhất.

Tết là tiết nhật bắt nguồn từ việc canh tác nông nghiệp, được xác lập trên cơ sở biến đổi khí hậu. Theo nông lịch cổ, tính theo lịch pháp âm – dương lịch mà ta quen gọi là âm lịch, mỗi năm có 24 tiết khí; tức là căn cứ vào sự thay đổi khí hậu để phân đoạn một năm thành 24 chặng, trung bình mỗi tháng có hai tiết, gồm một tiết khí và một trung khí, với những tiết khí đánh dấu giao điểm của bốn mùa.

Mặt khác, sự thay đổi các pha kỳ của mặt trăng cũng được thế nhân chú ý để xác lập nên những thời điểm quan trọng trong tháng. Dựa vào trăng tròn hay trăng khuyết, người ta gọi là ngày nguyệt sóc (mùng một) hay vọng nhật (ngày rằm). Ngày nguyệt sóc, tức mùng một, còn gọi là ngày thượng nhật hay nguyên nhật; riêng mùng một tháng Giêng thì gọi là Nguyên đán, trở thành ngày Tết đầu tiên trong năm.

Dần theo thời gian, ngày tháng của lịch pháp cổ và thời tiết tiết khí kết hợp với hoạt động sản xuất, sinh hoạt, tín ngưỡng đã hình thành cả một loạt các ngày Tết, có Tết lớn, có Tết nhỏ. Và Tết Nguyên đán đã trở thành Tết lớn nhất trong năm, được tổ chức vào tiết nhật mà thời tiết, khí hậu thuận lợi cho công việc sản xuất, đồng thời cũng là thời điểm dồi dào về nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm để hưởng dụng. Người mình gọi việc ấy bằng hai chữ rất mộc: ăn Tết.

Sự chuyển đổi Tết theo nông lịch truyền thống sang Tết Nguyên đán là xu thế mang tính lịch sử, đi theo đà phát triển của cuộc sống, của sự tiến bộ văn – xã và sự phổ biến của tôn giáo. Nội dung của lễ Tết vì thế cũng được tích hợp thêm nhiều tập tục mới, càng phát triển theo hướng hiện đại, nghiêng dần về hoạt động giao lưu, vui chơi, giải trí, văn hóa: từ dựng nêu, dán bùa, đốt pháo đã dần chuyển sang viết câu đối, vẽ tranh, chúc tụng, cầu mong phúc lộc thọ khang minh, cát tường như ý, thành đạt, phát tài.

Có thể nói, Tết là lễ hội với nhiều chức năng, nhiều nội dung: tế tự trời đất, thần linh, tổ tiên, cùng với việc trừ tà, trấn trạch, cầu an; đồng thời cũng là dịp đoàn viên gia đình tụ hội ăn uống, vui chơi, giải trí, thăm viếng, cầu mong mưa thuận gió hòa, chúc tụng nhau những điều tốt đẹp nhất được đến trong năm mới.

Nhìn cho kỹ thì Tết không phải một ngày, mà là một chuỗi nghi lễ nối nhau: lễ tất niên, lễ chung niên cuối năm, rồi lễ đón mừng năm mới. Xin lần lượt điểm qua từng nấc của chuỗi ấy.

Một trong những lễ thức quan trọng vào cuối năm là Lễ Tiễn Ông Táo về trời. Dân gian có câu:

Hai ba Ông Táo về trời
Bình vôi ở lại chịu lời đắng cay.

Lễ tiễn Ông Táo, gọi nôm na là lễ Cúng Ông Táo; có nơi mọi người đều thờ cúng cả Ông Táo lẫn Thổ Công nên thường gọi là lễ Cúng Ông Công – Ông Táo. Ông Táo còn gọi là Táo Quân hay Vua Bếp, được tôn là Đệ nhất gia chi chủ, tức đứng đầu trong tất cả các gia thần, với tôn hiệu Đông trù Tư mệnh Táo phủ thần quân.

Táo quân đảm trách việc bếp núc, lại kiêm cả phần tư mệnh, tức là quản lý sự sống của con người, sinh mệnh của các thành viên trong gia đình, giúp Trời ban phước hay giáng họa cho gia chủ. Tập tục này khởi đầu từ tín ngưỡng thờ lửa của gia đình: chính ngọn lửa trong Bếp đã đưa con người từ văn hóa ăn sống nuốt tươi bước sang thời kỳ văn hóa nấu nước, nấu chín thức ăn. Trên linh vị thờ Táo quân thời nay vẫn thường thấy đôi câu liễn:

Hữu đức năng ty hỏa
Vô tư khả đạt thiên

Nghĩa là: có đức nên có thể quản lý lửa; do lòng vô tư nên có thể thông đạt với trời. Đôi câu ấy đến giờ vẫn bảo lưu công năng ty hỏa cổ xưa. Bên cạnh đó, Táo quân còn một công năng nữa là giám sát công tội của chủ nhà để tâu lên Ngọc Hoàng thượng đế vào dịp lên chầu Trời ngày 23 tháng Chạp.

Bộ ba Ông Táo gồm một Bà Táo, còn gọi là Ông Táo chúa, và hai Ông Táo. Đó vừa là một bộ ba tôn kính, vừa tạo nên ba điểm của thế cân bằng bền, đỡ lấy nồi, niêu, xoong, chảo mà không nghiêng lệch, không ngã đổ. Cái Bếp vì thế trở nên quan trọng trong đời sống con người: đó không chỉ là nơi đun nấu thức ăn, nuôi mầm sự sống, mà còn tượng trưng cho sự quần tụ, cho sự sống chung, biểu trưng cho mái nhà, cho sự kết hợp giữa người đàn ông và người đàn bà, cho tình yêu, cho sự tụ họp thân thiết — và đặc biệt là nơi giữ gìn ngọn lửa cho gia đình, làm cho mọi người gần nhau bởi hơi ấm và ánh sáng của nó.

Tiếp đến là Lễ Chung niên, tức lễ Tất niên, được tổ chức từ Rằm tháng Chạp đến trước ngày 30 cuối năm, ngày giờ tùy từng gia đình. Có gia đình làm nghề thường tổ chức muộn để cúng tạ Tổ sư và gia thần, đồng thời cũng là dịp liên hoan chung với thầy thợ trước khi nghỉ Tết. Đây là lễ cúng tạ thần thánh, đất đai viên trạch đã phù hộ cho công việc làm ăn trong năm qua và mong được điều tốt đẹp trong năm đến. Sau lễ, gia chủ gửi một miếng thịt heo quay hay một món lễ vật nào đó biếu cho những người thợ, và thanh toán những khoản nợ trong năm.

Trong khoảng thời gian năm cùng tháng tận ấy, lệ xưa là học trò đi Tết thầy học, biếu quà cho thầy thuốc đã giúp chữa lành bệnh trong năm; con cháu đem lễ vật để cúng kiến Tổ tiên ở Từ đường tộc họ; con cháu lớp dưới cũng sắm sửa quà Tết để biếu tặng ông, bà, cha, mẹ và các bậc tôn trưởng, tỏ lòng tôn kính và tình nghĩa thân thiết. Ngoài ra việc biếu tặng còn mở rộng ra các mối quan hệ xã hội khác — và cũng phải nói cho ngay, đôi lúc nó vượt khỏi phạm vi tình nghĩa mà trở thành một tục lệ không tốt.

Lễ Tảo mộ là việc cuối năm thường lo tỉnh tảo, bồi đắp phần mộ tổ tiên. Đó là vâng theo quốc điển. Bởi vì gần Tết Nguyên đán, nhà cửa của người sống còn được sửa sang cho đàng hoàng, huống chi lẽ con cháu thờ người chết cũng như thờ người sống, đâu có lẽ để cây cối rậm rạp, mồ mả khuyết lở mà không lo đắp sửa, dẫy dọn. Ở Trung Hoa có Lễ Thanh minh tế tảo, thì ở nước ta làm Lễ Tảo mộ trong tháng Chạp cũng rất phải nghĩa.

Việc tế tự tổ tiên trong Tết Nguyên đán khởi đề từ Lễ Rước Ông bà vào ngày cuối năm. Theo Gia lễ của Nho giáo, tập thờ tự Tổ tiên chủ vào bốn đời, tính từ thế hệ của người đảm nhận việc thờ tự của từng gia tộc. Việc tế tự Tổ tiên là để bày tỏ lòng tôn kính báo bản tư nguyên, lại còn cầu linh hồn ban phước giúp gia đình, gia tộc hưng thịnh, mùa màng bội thu, chăn nuôi phát triển, việc làm, học hành, thi cử đều đạt được hanh thông.

Khi tế lễ, tất cả cửa lớn, cửa sổ đều mở toang. Người đốt nhang; trẻ con mặc đồ mới tươm tất, mặt mày hớn hở; chủ nhà, con trai trưởng hay người lớn tuổi mặc lễ phục, giữ vẻ tươi tắn, trang nghiêm đứng ra hành lễ. Khi lễ vật được bày lên đâu vào đó, chủ lễ thắp nhang, thắp đôi đèn sáp, lễ lạy bốn lạy; lạy xong thì chiết tửu, đốt trầm; con cháu lần lượt lễ bái tổ tiên. Chủ lễ đứng hầu bên bàn thờ, thỉnh thoảng châm thêm rượu vào chung, cốt cho đủ ba tuần; khi nhang tàn thì chủ lễ rót trà và lễ bái tạ. Kể từ giờ phút đó cho đến lễ Tiễn Ông bà vào ngày mùng 4 Tết, tổ tiên hiện diện cùng gia quyến ở đây — trong nhà, giữa con cháu, suốt mấy ngày Tết.

Tháng Giêng còn gọi là tháng tam dương khai thái, khởi đầu cho sự thăng thế của dương khí. Đây là thời điểm thiêng với nghĩa tống cựu nghinh tân, tức là đón cái mới, cái tốt và trừ bỏ cái xấu cũ. Vì thế các nghi thức cúng tiễn được diễn ra trước Tết: tiễn Táo, sau đó là Tiễn Phật, Tiễn Thần, để đến ngày 30 thì đón Táo, đón Thần, đón Phật. Đón Táo đi liền với việc gầy lửa mới; đón Phật đi liền với đón Hành Khiển – Hành Binh trong năm mới, cũng có nghĩa là đón các vị thần thờ tự đảm nhận việc bảo hộ trong niên mới. Khoảnh khắc đêm 30 rạng ngày mùng một là thời điểm giao thừa: cũ giao lại, mới tiếp lấy. Đó là thời điểm thiêng để trừ tiệt cái cũ mang điềm xấu, tà ma, quỷ mị, và đón tiếp điều may mắn, tốt lành, cuộc sống an khang thịnh vượng.

Rồi mới đến ba ngày Tết, bảy ngày xuân. Sáng Mùng Một, trước tiên là cúng tổ tiên, còn gọi là Lễ Nguyên đán; lễ vật thường gồm các loại món vật thực, bánh mứt. Cúng xong thì tiếp khách, đi chùa, viếng mộ tổ tiên, đi thắp hương từ đường, nhà thờ, thăm viếng, mừng tuổi ông bà, cha mẹ cả bên nội lẫn bên ngoại. Con cháu mừng tuổi Ông bà, kính chúc ông, bà, cha, mẹ bách niên giai lão. Trẻ con được ông bà, cha mẹ cho tiền gọi là tiền mừng tuổi, đựng trong bao lụa màu đỏ; về sau phổ biến gọi là tiền lì xì — chữ Hán Việt là Lợi thị — ngụ ý những lời chúc mừng cát tường như ý.

Tục ngữ có câu:

Mùng Một Tết Cha
Mùng Hai Tết Mẹ
Mùng Ba Tết Thầy

Tết Cha là đi lại chúc Tết họ hàng bên nội. Mùng Hai là ngày đi chúc Tết họ hàng bên ngoại, họ hàng của mẹ; người đã lập gia đình thì chúc Tết họ hàng bên nhà vợ cũng vào ngày này. Còn Mùng Ba đi chúc Tết Thầy, trước hết là Thầy học, thêm vào đó là Thầy thuốc đã giúp đỡ cho mình hay thân nhân mình trong năm qua.

Mâm cỗ Tết, trước là để dâng cúng thiên thần, địa kỳ, tiên tổ, sau đó mới dùng để ăn Tết như bữa ăn đoàn viên gia đình, khoản đãi bà con thân tộc, bạn bè, khách đến chơi Tết; vì vậy mâm cỗ Tết có tính trang nghiêm đặc biệt. Cúng phẩm phổ biến và quan trọng hàng đầu là bánh chưng, bánh dày, bánh tét, cốm và vật phẩm thổ sản của từng vùng, từng miền. Cả cái Tết ấy đã được người xưa gói lại trong hai câu:

Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Nêu cao, tràng pháo, bánh chưng xanh

Cùng với niềm vui là những điều phải giữ. Vào khem là bắt đầu tuân thủ những điều cấm kỵ, những việc kiêng khem vào đầu năm mới. Theo phong tục tập quán ở Nam Kỳ thế kỷ XX, thời điểm vào khem bắt đầu sau Lễ Rước Ông bà và dựng nêu, tức suốt đêm 30 đến mùng Một, cho đến khi có người khách xông đất, đạp đất đầu năm. Trong thời gian đó tất cả mọi người đều ở trong nhà, giữ hòa khí; riêng trẻ con được dặn dò phải ngoan ngoãn để có được một năm mới tốt lành.

Tục kiêng kỵ ở Miền Bắc và Miền Trung có phần tương tự nhau:

Kiêng quét nhà, vì sợ thần của cải theo rác đi mất;
Kiêng chửi mắng, la rầy con cái, cốt để cả năm gia đình yên ổn, thuận hòa;
Kiêng mặc áo trắng, vì sợ có tang tóc;
Kiêng nói điều xấu thô tục, không nhắc đến chuyện chết chóc, bệnh tật;
Kiêng cho lửa, e làm mất đi vận may của gia đình;
Kiêng làm vỡ bát đĩa;
Những người chịu tang không đi chúc Tết nhà người khác;
Kiêng không để đèn dầu trên bàn thờ mà hết dầu lụi tắt.

Mọi kiêng kỵ ấy cốt tạo nên điều tốt lành vào ngày đầu năm, và người xưa cho đó là khởi điểm cát tường cho cả năm đến.

Sau đó, bài viết còn kể tên một loạt tục lệ nữa của những ngày đầu xuân: tục Xông đất, việc chọn hướng xuất hành, hái lộc và xin lộc, rồi hóa vàng và Tiễn Ông bà — nấc cuối cùng khép lại chuỗi nghi lễ, khi con cháu tiễn tổ tiên trở về sau mấy ngày sum họp.

Thưa quý vị, điều đáng nghĩ nhất có lẽ không nằm ở từng lễ thức riêng lẻ, mà ở chỗ tất cả những việc ấy đều là việc lặp lại. Năm nào cũng dẫy cỏ mộ phần vào tháng Chạp, năm nào cũng thắp đôi đèn sáp và rót cho đủ ba tuần rượu, năm nào cũng có một đứa trẻ mặc áo mới đứng nhìn người lớn hành lễ mà chưa hiểu hết. Chính sự lặp lại ấy giữ cho một gia tộc không đứt mạch. Đứa trẻ hôm nay đứng nhìn, mấy chục năm sau sẽ là người thắp nhang; và những gì nó từng thấy mà chưa hiểu, đến lúc ấy tự khắc thành ra hiểu.