Trên mâm cỗ giỗ, dù nhà làm tiệc lớn đến mấy, bao giờ cũng có một thứ nhỏ bé mà không ai được phép quên: một chén cơm xới đầy có ngọn, úp lồng một cái chén khác lên trên, gọi là chén cơm lồng, cùng quả trứng gà luộc đã bóc vỏ dẹt ra trên đĩa với ít hột muối. Vì cái chén cơm ấy mà cúng giỗ mới có tên là “cúng cơm”. Thưa quý vị, trong tế tự, thờ cúng, điều quan trọng nhất vẫn là phải tỏ lòng thành tâm và tôn kính — mọi nghi tiết bày ra sau đó đều chỉ là cách để giữ cho tấm lòng ấy không thất tán.
Lệ thường, người ta làm giỗ lớn đối với bậc sinh thành. Những gia đình sung túc thường làm lễ tiên thường vào ngày hôm trước, để cáo yết tiên tổ và cáo tri người được làm giỗ; lễ cúng này vào buổi chiều. Nhiều nhà có hương hỏa, có lợi nhuận hay có kỵ điền để làm giỗ, thì anh em, bà con thân thích đến cúng tiên thường xong, đêm ở lại chầu chực gia tiên, để qua ngày hôm sau làm lễ bái chính giỗ.
Trên bàn thờ, đèn nhang được thắp đốt cùng với mâm cỗ cũng được bày lên. Gia trưởng phục sức chỉnh tề, soát xét lại đầy đủ các lễ vật, bước đến trước bàn thờ, nơi có chiếu trải, lễ bốn lạy, quỳ xuống, hai tay chắp lại vòng lên ngang trán. Một trong hai người chấp sự — thường là em hay con cháu, đứng hai bên bàn thờ — lấy ba nén hương châm lửa thắp, đưa cho gia trưởng cầm vái một vái rồi trao lại đem cắm lên bát hương. Người chấp sự thứ hai mở nút bình rượu, rót rượu vào ba cái chén để trên đài; xong đâu đó rồi gia trưởng làm lễ khấn vái.
Khi khấn người chết, người ta phải khấn thầm rất khẽ trong miệng, để tỏ lòng mình kính trọng. Lúc khấn cần khấn hết tên tục, tên hiệu, tên hèm của người được giỗ. Tên tục là tên lúc còn sống; tên hiệu là biệt hiệu; tên hèm là tên thụy, được đặt lúc hấp hối để khi cúng cơm thì khấn. Có những cái tên chỉ được gọi lên mỗi năm một lần, trong một căn nhà, bằng một giọng rất khẽ — và chính vì thế mà chúng không mất.
Khi khấn giỗ, con cháu cần phân biệt các hàng kỵ, cụ, ông bà, cha, mẹ: đàn ông khấn chữ “khảo”, đàn bà khấn chữ “tỷ”. Hệ thống gia tộc gồm:
Hai cụ tổ xa nhất: đàn ông gọi là Viên tổ khảo; đàn bà gọi là Viên tổ tỷ
Tổ ông, tổ bà năm đời đối với người khấn: đàn ông gọi là Cao tằng tổ khảo, đàn bà gọi là Cao tằng tổ tỷ
Cụ ông, cụ bà tổ bốn đời: đàn ông gọi là Tằng tổ khảo, đàn bà gọi là Tằng tổ tỷ
Ông bà nội: đàn ông gọi là Tổ khảo, đàn bà gọi là Tổ tỷ
Cha mẹ: đàn ông gọi là Hiển khảo, đàn bà gọi là Hiển tỷ
Văn khấn thông thường gồm có ba phần.
Khấn xong, gia trưởng cúi xuống, lễ nốt một nửa lạy nữa để đứng lên, rồi vái ba vái và lùi ra. Tiếp sau đó là những người trong tộc họ, theo thứ tự quan trọng và hạng bậc, làm lễ trước bàn thờ với bốn lạy, ba vái. Những khách khứa cùng bà con thân thích, trước khi ngồi vào bàn, vào ván ăn giỗ, phải làm lễ dâng cúng với lễ vật mình đem tới và lạy trước bàn thờ vong linh.
Nếu là tế lễ thì theo tục lệ tế lễ thần thánh, tế tổ tiên, có các nghi tiết được sắp xếp một cách quy củ, trang trọng. Trước bàn thờ chính có trải bốn chiếc chiếu. Hai bên chiếu trải: bên phải bàn thờ có án để rượu và đèn nến, bên trái có án để đài rượu, khay trà. Nghi tiết đầy đủ được áp dụng trong cuộc lễ tế lớn của làng hay của gia đình, có thủ tục đại cương ghi theo thứ tự của lời xướng lễ như sau:
1. Thành Tế Thánh đại lễ, chấp sự giả các tư kỳ sự (Bắt đầu tế Thánh, các vị chấp sự phải liệu việc của mình)
2. Thuế cân, nghệ quán tẩy sơ (Các vị dự tế rửa tay, lau tay)
3. Chánh tế viên tựu vị (Vị chánh tế vào đứng ở chiếu thứ 3)
4. Bồi tế viên tựu vị (Các vị bồi tế vào chiếu thứ 4)
5. Củ soát tế vật (Hai người chấp sự cầm đèn đưa cho vị chánh tế đi kiểm soát các lễ vật, coi có sơ suất gì không)
6. Khởi chung cổ (Đánh chuông trống, thường là 3 hồi)
7. Nhạc công tấu nhạc (Phường bát âm cử nhạc)
8. Tham thần cúc cung bái (Chủ tế và bồi bái lạy 4 lạy theo nhịp xướng của người xướng tế: hưng là đứng dậy, bái là lạy theo lối phủ phục toàn thân)
9. Hành sơ hiến lễ. Chánh tế viên nghệ hương án tiền (Làm lễ sơ hiến, vị chánh tế bước ra ngoài, vòng lên chiếu thứ nhất trước hương án)
10. Quỵ (Vị chánh tế quỳ xuống)
11. Tiến tước (Hai chấp sự đem rượu đến quỳ cạnh chủ tế cho chủ tế rót; chủ tế rót rồi đưa cho chấp sự để lên bàn thờ)
12. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy 2 lạy)
13. Bình thân, phục vị (Chủ tế đi ra vòng xuống đứng lại ở chiếu thứ 3)
14. Nghệ độc chúc sở tại hương án tiền (Chủ tế bước lên chiếu thứ nhất)
15. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống)
16. Chuyển chúc (Hai chấp sự lên bàn thờ đem chúc xuống, quỳ bên chánh tế)
17. Tuyên đọc (Người đọc chúc quỳ bên cạnh tuyên đọc chúc)
18. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy 2 lạy)
19. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ)
20. Hành Á hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ 2 như lần sơ hiến)
21. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy 2 lạy)
22. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ)
23. Hành chung hiến lễ nghệ hương án tiền (Dâng rượu lần thứ 3)
24. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ)
25. Nghệ tô sở (Chủ tế lên chiếu thứ 2 chờ lễ Tộ sở)
26. Quỵ (Chủ tế quỳ xuống)
27. Tứ Phúc tộ (Chấp sự lên bàn thờ lấy khay rượu thịt được thần hay gia tiên ban cho chủ tế)
28. Thu tộ (Chấp sự đưa khay cho chủ tế, chủ tế đón nhận uống một hớp rượu tượng trưng; khay rượu thịt cho chủ tế mang về khi tế xong)
29. Phủ phục, hưng bái (Chủ tế khấu đầu lạy 2 lạy)
30. Bình thân, phục vị (Chủ tế về chỗ cũ ở chiếu thứ 3)
31. Bình thân, điểm trà (Chấp sự dâng trà lên bàn thờ)
32. Hành tạ lễ cúc cung bái (Chủ tế và bồi tế lễ tạ 4 lễ)
33. Bình thân phần chúc (Chủ tế và bồi tế đứng lui ra để người chấp sự đốt sớ)
34. Lễ tất (Xong lễ, mỗi người vái 3 vái)
Trong lễ có mấy điều chú ý sau. Khi người chủ tế di chuyển đổi chỗ trên các chiếu, từ chiếu dưới lên chiếu trên phải đi ra khỏi chiếu rồi bước lên về phía bên phải của mình; và khi trở xuống cũng phải bước ra khỏi chiếu về phía bên trái của mình, tức là bên phải của bàn thờ chính. Khi đốt sớ, mọi người dự tế đều phải đứng quay mặt và ngó vào chỗ đốt sớ.
Từng bước chân đặt ở đâu, quay về phía nào, đều đã có người đi trước sắp sẵn — và cái sự sắp sẵn ấy, xét cho cùng, cũng chỉ để người hành lễ khỏi phải phân tâm, mà giữ trọn lòng thành trong suốt cuộc lễ.
(Theo Gia lễ xưa và nay của Phạm Côn Sơn)
