Mùa xuân năm Đinh Mùi 1847, một người trẻ tuổi của làng Thanh Lương bước vào khoa thi Hội, trúng cách đỗ tiến sĩ, được xếp thứ bảy. Rồi vào thi Đình, bài văn của ông phạm húy; chỉ một chữ đặt không đúng chỗ mà triều đình truất luôn cả học vị tiến sĩ vừa đỗ lẫn tấm cử nhân của khoa trước đó. Thưa quý vị, người ấy là Đặng Huy Trứ (1825 – 1874), quan lại, một trí thức tiên phong có tư tưởng cải cách, tác giả “Từ thụ yếu quy” — tác phẩm quan trọng nhất của ông, một công trình nghiên cứu toàn diện và sâu sắc về nạn hối lộ và phẩm chất của hàng ngũ quan lại đương thời. Có những lần vấp ngã tưởng đã khép lại một đời người, mà nhìn từ hơn một thế kỷ sau, hóa ra chỉ là một chỗ rẽ.
Ban Biên tập Website xin trân trọng giới thiệu bài viết về tiểu sử, tác phẩm và sự nghiệp của Danh nhân Văn hóa Hoàng Trung Đặng Huy Trứ, do Ban Biên soạn tài liệu Hội thảo Khoa học “Đặng Huy Trứ – Người khai lập ngành Nhiếp ảnh Việt Nam” tổ chức tại thành phố Huế tháng 3 năm 2018 thực hiện.
Đặng Huy Trứ được sinh ra trong một gia đình nông thôn có truyền thống nho học. Ông nội và cha đều làm nghề dạy học, đều mở lớp dạy học ngay tại quê nhà, và đều đào tạo được những người thành danh. Ông nội là cụ Đặng Quang Tuấn, một nhà nho nổi tiếng trong vùng, suốt đời làm nghề dạy học, là một trong những vị thầy của Phạm Văn Trị — con trưởng Thái úy Tây Sơn Phạm Văn Hưng. Chính cụ đã đào tạo cho ba người con trai thành đạt, trong đó con trai trưởng là Đặng Văn Hòa làm quan đại thần Cơ Mật viện. Trong số học trò của cụ còn có Trần Văn Trung, người làng Thanh Lương, sau làm thượng thư.
Đến đời sau, cụ Đặng Văn Trọng, thân phụ của Đặng Huy Trứ, tiếp tục nghề dạy học ấy và cũng dạy nên chính những người con của mình: con trai là Đặng Huy Trứ, con trai thứ là Đặng Huy Xán đậu phó bảng. Trong số học trò của cụ còn có Nguyễn Đình Tuân, người làng Phước Yên, đỗ tiến sĩ, sau này làm em rể Đặng Huy Trứ. Ba đời liền mở lớp ở một làng quê — đó là cái nền lặng lẽ mà từ đó một con người khác thường bước ra.
Quê tổ Đặng Huy Trứ thuộc làng Hiền Sĩ; đến đời thứ tư thì về nhập tịch làng Bát Vọng, rồi sang cư ngụ tại làng Thanh Lương, nay thuộc thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Đặng Huy Trứ được sinh ra và lớn lên tại chính làng này.
Vốn bản tính thông minh, lại được sự giáo dục chu đáo từ gia đình, nhất là trong việc học tập, từ năm 15 tuổi Đặng Huy Trứ đã biết làm thơ. Năm Quý Mão (1843), ông theo cha đến trường thi Phú Xuân dự thi và trúng tuyển Cử nhân ngay trong kỳ thi ấy. Khoa thi Hội mùa xuân Đinh Mùi (1847), ông đi thi và trúng cách đỗ tiến sĩ, được xếp thứ 7. Vào thi Đình, bài văn của ông phạm húy, liền bị truất cả Tiến sĩ lẫn Cử nhân của khóa trước đây. Ngay trong mùa thu năm ấy, triều đình mở ân khoa thi Hương nhân dịp mừng thọ vua Thiệu Trị 40 tuổi; Đặng Huy Trứ đi thi lại và đã đỗ đầu kỳ thi Hương, tức Giải nguyên.
Trong lúc chờ triều đình bổ nhiệm ra làm quan, Đặng Huy Trứ làm nghề dạy học trong gần 10 năm. Ông mở trường ở nhiều nơi tại Thừa Thiên – Huế và Quảng Nam.
Tháng 8 năm 1856, tàu chiến Catinat của Pháp đến bắn phá đồn lũy của ta tại Sơn Trà – Đà Nẵng. Tháng 10 năm ấy, Đặng Huy Trứ được cử đi kiểm tra tàu thuyền và viết bài thơ “Đi quân đi thứ Đà Nẵng ghi lại”. Đặng Huy Trứ bắt đầu tham gia quan trường từ đây.
Năm 1857, ông làm Thông phán Ty Bố chính Thanh Hóa. Năm 1858, làm Tri huyện Quảng Xương (Thanh Hóa). Năm 1861, làm tri phủ Xuân Trường. Năm 1862, ông trở về kinh giữ chức Hàn lâm viện trước tác. Năm 1863, làm Ngự sử lĩnh chưởng ấn khoa binh. Năm 1864, tỉnh Quảng Nam bị hạn hán nặng, dân tình đói khổ; nhân sĩ Quảng Nam dâng sớ xin triều đình cử Đặng Huy Trứ vào giữ chức Bố chính Quảng Nam để chống hạn và cứu đói cho dân.
Năm 1865, Đặng Huy Trứ theo lệnh triều đình, cải trang thành người nhà Thanh, sang Quảng Đông thăm dò tình hình Tây dương, tìm phương sách cứu nước. Trong thời gian ở nước ngoài, ông gặp gỡ và trao đổi ý kiến với nhiều nhà trí thức canh tân ở Trung Quốc. Ông tiếp xúc với việc chế tạo máy móc, đóng thuyền, đúc súng đạn; sưu tầm sách báo các nước, dịch ra và giới thiệu với giới trí thức trong nước. Ông gặp gỡ và động viên người Việt Nam được cử sang Hương Cảng học nghề đóng tàu thủy chạy bằng hơi nước. Ông ghi chép tỉ mỉ kỹ thuật máy hơi nước được mô tả trong cuốn sách “Bác vật tân biên” của người Anh và đem về nước. Cũng trong dịp này, ông mua 239 khẩu “quá sơn pháo” (bắn qua núi) gửi về nước.
Trở về nước năm 1866, Đặng Huy Trứ được cử làm Biện lý bộ Hộ. Vào dịp này, ông đã tâu xin và được giao cho thành lập Ty Bình Chuẩn ở Hà Nội để lo việc kinh doanh, gây dựng tài chính cho quốc gia; triều đình chấp thuận và Đặng Huy Trứ giữ chức Bình Chuẩn.
Năm 1867, ông lại được cử sang Quảng Đông lần thứ hai. Trong thời gian ở Quảng Đông lần này, ông bị ốm nặng. Nằm trên giường bệnh, ông vẫn đọc sách, viết sách, làm thơ. Cũng trong thời gian ấy, ông suy nghĩ về vận mạng của Tổ quốc, về con đường “tự cường tự trị” để đuổi theo các nước tiên tiến, và đã viết một bài văn nhan đề “Trong khi ốm được Dã trì chủ nhân chỉ giáo”, trình bày tư tưởng canh tân và cứu nước. Cũng chính ở đó, ông tìm hiểu, học hỏi về kỹ thuật nhiếp ảnh và nhờ người tìm mua dụng cụ của nghề nhiếp ảnh.
Sau khi về nước, năm 1869, ông mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường tại phố Thanh Hà ở Hà Nội. Đây là hiệu nhiếp ảnh đầu tiên ở Việt Nam. Xin quý vị dừng lại một chút ở cái tên ấy: Cảm Hiếu Đường — nhà của lòng hiếu cảm. Một người vừa trải qua trận ốm nặng nơi đất khách, khi trở về đã đặt lên phố phường Hà Nội một cái nhà nhỏ, nơi con người ta có thể giữ lại khuôn mặt của cha mẹ mình trước khi thời gian lấy đi. Ngày nay, ông được giới nhiếp ảnh Việt Nam tôn vinh là Ông tổ nghề ảnh Việt Nam.
Năm 1869, ông nhận chức Thương biện tỉnh vụ Hà Nội, rồi Khâm phái Thương biện quân vụ Sơn – Hưng – Tuyên. Năm 1871, ông được cử giữ chức Bang biện quân vụ Lạng – Bằng – Ninh – Thái (gồm các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Ninh, Thái Nguyên) và được phái lên biên giới phía Bắc, cùng nhiều quan lại khác giúp Hoàng Kế Viêm đánh dẹp giặc phỉ ở biên giới phía Bắc.
Năm 1873, quân Pháp đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương chỉ huy quan quân chống cự, bị thương và sau đó từ trần. Pháp đánh chiếm Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên, Ninh Bình… Đặng Huy Trứ cùng quan quân rút về căn cứ Đồn Vàng, cùng Hoàng Kế Viêm tiếp tục tổ chức lực lượng kháng chiến chống Pháp lâu dài. Tại đây, Đặng Huy Trứ lâm bệnh và từ trần vào ngày 7/8/1874 (tức ngày 25 tháng 6 năm Giáp Tuất), ở xã Cao Lăng, Chợ Bến, Đồn Vàng.
Với cuộc đời chỉ vỏn vẹn 49 năm, nhưng bằng tài năng và nhiệt huyết, Đặng Huy Trứ đã để lại nhiều di sản cho đời, mà theo đánh giá của nhà sử học Lê Văn Lan: “Sự nghiệp mà Đặng Huy Trứ để lại so với đám nhà nho đương thời, không chỉ là vượt bậc mà là vượt trội”.
Về giáo dục, quan niệm của Đặng Huy Trứ tiến bộ hơn các nhà nho đương thời, và vẫn còn giá trị cho đến ngày nay: đó là quan niệm “sư đệ tương trưởng” — thầy và trò cùng học, cùng nhau trưởng thành, tiến bộ. Không chỉ học trò học, mà thầy cũng phải học thêm, vì bể học thì mênh mông mà kiến thức con người thì có hạn. Trong “Lời cáo thị trường tư thục Thanh Lương ở Quảng Nam” năm 1849, Đặng Huy Trứ đã viết: “…Ta tài cao học kém, lạm dự khoa danh, lần đẩy mở hòm, nhiều sách chưa đọc. Lấy ống nhìn trời có gì gọi là kiến thức; dùng ngao đong biển, có gì gọi là uyên thâm…”.
Không những thế, Đặng Huy Trứ còn lên án cái học hư danh: học không phải để sau này cốt “áo chùng, đai lớn, bước rộng ngồi cao… Da báo thân dê trong bụng hoàn toàn trống rỗng”. Không hài lòng với những sách giáo khoa từ xưa để lại, ông đã tự soạn sách giáo khoa: Sách học vấn tân, Sĩ nông công thương tứ gia lạc, Tứ thập bát hiếu thi họa toàn tập, Tứ thư văn tuyển. Ngoài ra, ông còn có những bài thơ, bài phú mang tính cách giáo dục như: Răn không uống rượu, Răn không cờ bạc, Răn không hút thuốc phiện…
Về kinh tế, năm 1866, khi đang giữ chức Biện lý bộ Hộ, ông đã tâu lên nhà vua xin lập Ty Bình Chuẩn để kinh doanh, gây dựng kinh tế cho triều đình đang kiệt quệ. Ông tâu lên nhà vua: “Việc kinh doanh buôn bán mặc dù được cho là nghề mạt, gia đình tôi đã 4-5 đời là nhà nho bốn, năm đời chịu ơn nước, tôi xin ra sức khuyển mã để báo đáp, đảm bảo việc tài chính quốc gia quyết không từ nan”. Đề xuất của ông được nhà vua chấp thuận và giao cho ông giữ chức Bình Chuẩn sứ đảm nhận ty này.
Vượt lên quan niệm cổ hủ của nhà nho thời đó vốn coi rẻ nghề đi buôn, với quan điểm kinh tế “Sinh tài đại đạo sự phi khinh” (Làm giàu là một đạo lớn chớ xem khinh), Đặng Huy Trứ thành lập nhiều hiệu buôn ở Hà Nội như: Lạc sinh điếm, Lạc thanh điếm, Lạc đức điếm, để tạo sự lưu thông hàng hóa cho ba miền. Với số vốn ít ỏi mà triều đình cấp (năm chục ngàn quan), ông đã động viên thêm vốn của tư nhân để kinh doanh theo công thức “Công tư lưỡng lợi” (Công tư lưỡng lợi nước thêm bền). Quan niệm về kinh tế ấy đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.
Về quân sự, tháng 8 năm 1856, tàu chiến của Pháp đến đỗ ở bến Sơn Trà, sau đó bắn phá đồn lũy và bắt giữ quan binh của ta rồi bỏ đi. Dù chiến tranh chưa nổ ra, hành động khiêu khích ấy đã báo trước hiểm họa xâm lăng. Căm phẫn trước hành động của quân xâm lược, ông đã sáng tác bài thơ “Vãng Đà Nẵng quân thứ tức sự” (Đi quân thứ Đà Nẵng ghi lại):
Một vùng Đà Nẵng: rợ Tây dương,
Giữ nước, quân dân mệt lạ thường
……..
Diệt thù, sương gió thương quân sĩ
Lo nước, đêm ngày bận đế vương…
Theo Hoàng Kế Viêm thử pháo, ông đã thấy hiện ra cảnh:
“Ầm ầm pháo nổ ran muôn dặm
Mù mịt khói bay tỏa vạn trùng.
Chỉ đợi thiêu tàn gan ruột giặc,
Sóng kình từ đó bặt tăm không”.
Sau này, khi tình thế đã khẩn trương hơn, khi thực dân Pháp đã lộ rõ bộ mặt giả dối và đã chiếm Gia Định, Đặng Huy Trứ đứng hẳn về phe chủ chiến, quyết tâm chống giặc ngoại xâm. Năm 1869, ông thành lập nhà in “Trí Trung đường” ở phố Thanh Hà (Hà Nội), cho in hai cuốn binh thư: “Kỷ sự tân biên” của Lương Huy Bích viết dưới thời Tây Sơn, và một cuốn binh thư của Trung Quốc tên là “Kim Thang tá chử Thập nhị trù”. Ông gửi sách biếu bạn bè. Trong thư biếu sách gửi lên Tổng đốc Thanh Hóa là Tôn Thất Hành, ông viết: “Bốn phương giặc giã đó là cái nhục của khanh đại phu. Muốn rửa nhục này không thể không đọc binh thư…”. Sự nghiệp cuối cùng trong cuộc đời làm quan của ông là về quân sự. Và ông đã từ trần trên thành lũy chống ngoại xâm.
Về tư cách một nhà canh tân: nhờ sự ủng hộ và đề xuất của Phạm Phú Thứ, một đại thần yêu nước biết rõ tài năng của Đặng Huy Trứ, ông được cử đi Hồng Công, Ma Cao, Quảng Đông hai lần vào những năm 1865 và 1867. Trong thời gian ra nước ngoài, Đặng Huy Trứ ra sức học tập, gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi ý kiến với trí thức của xứ người, cũng như thu thập tin tức trên các báo “Thiên tân kinh báo” và “Tuần san Quảng Châu” bằng tiếng Trung Quốc. Với hoài bão canh tân đất nước, ông đã đúc kết lại một bài văn đề ra con đường “tự cường, tự chủ” cho đất nước.
Kế hoạch “tự cường, tự trị” để đuổi theo các nước tiên tiến, theo ông, là: lập cục cơ khí, đặc biệt là cơ sở đóng tàu; mở xưởng đúc gang thép, chế tạo máy móc; lập cục dạy nghề, đúc súng ống… Học tập người Nhật xây dựng thủy quân, huấn luyện quân đội, dạy kỹ thuật hàng hải cho thủy thủ như nước Nhật. Tuyển chọn thanh niên tuấn tú, cho sang nước Anh học quân sự… Từ những thành tựu to lớn mà các nước đã đạt được khi tiến hành tự cường, tự trị, Đặng Huy Trứ được thôi thúc vận dụng những bài học kinh nghiệm ấy vào Việt Nam. Đây cũng là nét vượt trội so với các nhà nho đương thời, và vì thế ông đã trở thành “một trong những người trồng mầm khai hoá đầu tiên ở Việt Nam”, như lời đánh giá của Phan Bội Châu sau này.
Về tư cách một nhà chính trị liêm chính: tuy gia nhập quan trường khá muộn màng, lúc đã 31 tuổi, do bị vướng vào vụ án văn chương “Gia miêu chi hại”, nhưng với tài năng, tâm huyết cùng tấm lòng yêu nước thương dân nồng nàn, suốt cuộc đời làm quan của mình, Đặng Huy Trứ đã đưa ra những quan niệm khác thường về trách nhiệm của người làm quan. Quan niệm xưa cho rằng quan là mẹ của dân — “dân chi phụ mẫu” — để được sự cung phụng từ người dân. Đặng Huy Trứ trái lại cho rằng làm quan phải là người con của người “dân mọn”, tức là “Thứ dân chi tử”:
“Danh lợi do lai nan lưỡng đắc.
Thứ dân chi tử diệc công khanh.”
(Danh lợi xưa nay khôn vẹn cả,
Làm con dân mọn cũng công khanh).
Nhưng về sau, rốt ráo hơn, ông đã tự gọi mình là “khuyển mã” của dân:
(Khuyển mã đời ta bốn chục rồi,
Uổng bao năm tháng lắm lầm sai…)
Đặng Huy Trứ đã có nhiều bài thơ, bài văn nói lên trách nhiệm của kẻ làm quan:
“Giúp chúa, dặm ngàn tâu chính sự
Vì dân, bệ ngọc giãi oan khiên”.
“Muốn dân được lợi cần quyền biến,
Tội vạ riêng mang há sợ gì”.
Cho nên dù khi đã làm quan đứng đầu một tỉnh, ông vẫn sống trong cảnh:
“Thức đến tàn canh, dậy trước lại
Ăn rành một món, khổ cùng dân”.
Và ông làm thơ để tự nhắc nhở mình:
“Son phấn tránh xa tinh thần sáng
Tiều phu gần gũi trí lự tăng”.
Nhà thơ Vũ Thọ Tiên đã có bài thơ tặng Đặng Huy Trứ, trong đó có đôi câu:
“Công ưu dục dữ dân giai lạc,
Thân đoản hà như lự cánh trường”.
(Lo dân chỉ muốn dân điều sướng,
Thân nhỏ mà sao trí lự đầy).
Về tư cách nhà văn, nhà thơ: Đặng Huy Trứ làm thơ từ năm 15 tuổi. Ông đã để lại một khối lượng tác phẩm gồm 12 tập thơ với hơn 1.200 bài, 4 tập văn và 1 tập hồi ký. Thơ văn của ông nói lên ý chí, phản ánh tình cảm và nhân cách cao đẹp của ông. Nguyễn Văn Siêu xem ông là người bạn “băng tuyết”:
(Lâu rồi bạn băng tuyết,
Hoa có dòng thủy tiên).
Tô Vĩ Đường, một nhà thơ Trung Quốc, khi viết lời “Tựa” cho tập “Đặng Hoàng Trung thi văn” của ông, đã nhận xét: “Thơ thật là tinh luyện. Lời giản dị, ý nghĩa sâu xa, trong sáng và mới mẻ, phi thường và trác tuyệt, đẹp không gì sánh được. Trong đó đã lịch duyệt núi sông, ca ngợi phong tục đất nước, từ chuyện khen chê can gián trong nhà hay ngoài xã hội đến việc trù hoạch quốc kế dân sinh đều thấy trong câu thơ lời vịnh”. Và:
Giãi tỏ lòng trung mẫn hẳn ngang với Đỗ Phủ
Miêu tả bách tính sinh linh hẳn so được với Bạch Cư Dị
“Trữ trung mẫn tắc đẳng ư Đỗ Công Bộ
Tả tính linh tắc tỉ ư Bạch Hương Sơn”.
La Nghiêu Cù, một văn nhân khác của Trung Quốc, khi đọc tập thơ trên cũng đã đề thơ tặng:
(Lời đẹp Thích – ca chuỗi hạt châu!
Nam bang cờ sứ cắm thư lâu
Năm nao mượn bút Giang Lang chép
Voi chở thơ vàng rắc chín khu…)
Như Ông phong cách xứng thi hào,
Trước tác hàn lâm tự thuở nào.
Tạm trích vài trang công bố thử,
Lạc Dương giá giấy hẳn lên cao.
Các tác phẩm của Đặng Huy Trứ hiện còn được lưu giữ tại Thư viện Hán Nôm:
1. Bách duyệt tập (VHv.2395)
2. Sách học vấn tân (VHv.884)
3. Sách học vấn tân (VHv.409)
4. Thanh Khang Hi ngự đề (VHv.824)
5. Tứ giới thi (A.2867)
6. Tứ thập bát hiếu thi họa toàn tập (A.3104/c)
7. Từ thụ yếu qui (A.491/1-3)
8. Tứ thư văn tuyển (VHv.341/1-4)
9. Đặng Hoàng Trung ngũ giới pháp thiếp (A.1742)
10. Đặng Hoàng Trung thi sao (VHv.249/1-2,4-6)
11. Đặng Hoàng Trung văn sao (VHv.834/1-4)
12. Nhĩ hoàng di ái lục (VHv.1435)
13. Nhị vị tập [Bành ngũ lĩnh nhị vị tập] (AC.670)
14. Tự trị yên đổ phương thư (A.2334)
15. Đông nam tận mĩ lục (A.416)
Các tác phẩm đã được dịch và xuất bản:
1. Đặng Huy Trứ con người và tác phẩm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1990.
2. Từ thụ yếu quy. Nhà xuất bản Pháp Lý – Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, năm 1992.
3. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Nhà xuất bản Hội Sử học Việt Nam.
4. Nhĩ Hoàng di ái lục. Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin – Hà Nội.
Thưa quý vị, một đời người 49 năm, mà đủ chỗ cho gần mười năm dạy học, hai chuyến đi Quảng Đông, một Ty Bình Chuẩn, ba hiệu buôn, một nhà in, một hiệu ảnh, mười hai tập thơ và một cái chết trên thành lũy. Những chức quan rồi cũng thành mấy dòng chữ trong sách; nhưng cái tên Cảm Hiếu Đường thì mỗi lần được nhắc lại vẫn còn nguyên cái ý ban đầu của nó: giữ lấy khuôn mặt người thân trước khi năm tháng làm mờ đi. Con cháu họ Đặng hôm nay đọc lại tiểu sử này, có lẽ điều đáng nhớ nhất không phải là những danh vị, mà là một thói quen rất giản dị mà ba đời nhà ấy giữ được — đọc sách, dạy học, và không chịu bằng lòng với những gì mình đã biết.
